Kĩ thuật nuôi dê và phòng bệnh cho dê

151 lượt xem

Dê thích hợp sinh trưởng ở môi trường có địa hình cao, khi chăn nuôi nên chọn  nơi khô ráo, hệ thống thoát nước thuận lợi, địa hình thoáng đãng để làm chuồng, cung cấp thức ăn thô, xanh cho dê vào mỗi buổi sáng, giữa và buổi tối để duy trì tăng trưởng phát triển của chúng. Trong quá trình nuôi dê cần nhiều kĩ thuật nuôi dê và các biện pháp phòng bệnh cho dê để hạn chế rủi ro

Kĩ thuật nuôi dê và phòng bệnh cho dê

Cách nuôi, kĩ thuật nuôi dê

Dựng chòi

Dê thích hợp sinh trưởng ở môi trường khô ráo và ấm áp, đối với dê sinh sản nên chọn nơi có địa hình cao ráo, hệ thống thoát nước thuận lợi, chừa chỗ cho dê ăn rộng 10 – 20m2 trước chuồng, lắp đặt cố định máng ăn, dụng cụ uống nước. Bên ngoài chuồng cần có rãnh thoát nước, bên trong chuồng nên lót phên tre, nền xi măng. Vào mùa đông, dùng màng ni lông để che chắn chuồng ở những nơi lạnh giá, có thể làm tăng nhiệt độ chuồng dê 4-7°C, có lợi cho sự sinh trưởng của dê. Nên sử dụng luân phiên các loại thuốc sát trùng như sữa vôi 20%, dung dịch bột tẩy 10%,… thường xuyên sát trùng chuồng dê, sân vườn, máng ăn, dụng cụ uống nước, dụng cụ chăn nuôi, chuồng trại

nuoi de 3

Cung cấp thức ăn

Dê ăn cỏ trong quá trình sinh trưởng, có thể cho dê ăn thức ăn thô, xanh 3 lần/ngày để duy trì sự phát triển nhưng trong trường hợp mùa đông không đủ nguồn cỏ thì có thể cho dê ăn cám gạo, cám mì, hạt bắp ngô nghiền nhỏ, các loại ngũ cốc khác để dê có thể tồn tại qua mùa đông một cách suôn sẻ

nuoi de 2

Nên được chăn thả thường xuyên

Dê chủ yếu hoạt động ở sườn đồi, rừng cây và các môi trường khác, nếu nuôi nhốt lâu ngày sẽ giảm khả năng miễn dịch, dễ mắc bệnh. Trong quá trình nuôi nên cho dê ra ngoài ruộng vườn đồng cỏ để sinh hoạt kiếm ăn trong khoảng 1 giờ đồng hồ.

Cách phối giống

Trong những trường hợp bình thường, những con đực chất lượng cao có thể được phối giống khi chúng được  khoảng 10 tháng tuổi. Trong giai đoạn đầu của việc phối giống cần phải phối một cách hợp lý.

Sau khi chăn thả, ban đêm nên cho dê sinh sản vào chuồng riêng, để dê sinh sản có đủ thời gian nghỉ ngơi, cần bổ sung một lượng thức ăn tinh nhất định.

Những con đực một năm tuổi có thể chính thức được đưa vào sản xuất giống.

nuoi de 4

Việc giao phối giữa con cho giống và con nhận giống phải được ghi chép chi tiết để có thể điều chỉnh hợp lý theo tình hình thực tế, để mỗi con cho giống phát huy được hiệu quả tốt nhất.

Thường xuyên trao đổi các con đực giống từ nơi khác đến, đeo số tai cho dê đực và cái dùng để phối giống, lập hồ sơ phối giống, ghi chép chi tiết số lượng dê sinh sản, thời gian sinh sản, phương pháp sinh sản và tình hình dê cái, kiểm soát đực và cái theo kế hoạch. Cách này để tránh sự suy thoái giống do dê giao phối cận huyết.

Xem thêm kĩ thuật nuôi hươu lấy nhung 

Một số loại bệnh có thể mắc phải và cách phòng bệnh cho dê

Kĩ thuật nuôi và phòng bệnh cho dê

Bệnh viêm loét miệng truyền nhiễm ở dê

Mầm bệnh là vi-rút mụn mủ truyền nhiễm thuộc giống Parapoxvirus thuộc họ Poxviridae. Dê non từ 3- 6 tháng tuổi dễ mắc bệnh nhất và chủ yếu lây truyền qua chuồng, đồ dùng và vết trầy xước da

Đặc điểm lâm sàng: Thời gian ủ bệnh từ 4-7 ngày, thường thấy trên da và niêm mạc môi xuất hiện các vết sần, mụn mủ, loét, vảy tiết dày trên da và niêm mạc môi. Dê chết do cơ thể suy nhược, diễn biến bệnh từ 2-3 tuần.

Biện pháp phòng ngừa và kiểm soát: Nghiêm cấm đưa dê ra khỏi vùng có dịch, thiết lập hệ thống cách ly và quan sát việc đưa dê vào nuôi, nên tránh cho ăn thức ăn thô và cứng để tránh nhiễm trùng; sau khi mắc bệnh, phải khử trùng kỹ chuồng dê và đồ dùng bằng NaOH 2%, và cách ly dê bệnh, có thể dùng giấm hoặc axit pecmanganic 1%, rửa vết thương bằng dung dịch kali, sau đó bôi glycerin iốt hoặc thuốc mỡ kháng sinh ngày 2 lần.

Bệnh lưỡi xanh ở dê

Tác nhân gây bệnh là virus bluetongue thuộc họ Reoviridae, được đặt tên theo chiếc lưỡi tím xanh của dê bệnh. Culicoides là vật trung gian truyền bệnh chính và vi rút có thể xâm nhập vào thai nhi qua nhau thai.

Đặc điểm của bệnh: Thời gian ủ bệnh 3-8 ngày, dê bệnh sốt đến 42°C, tinh thần sa sút, chán ăn, xung huyết niêm mạc miệng, lưỡi tím xanh. Biểu mô niêm mạc miệng và lưỡi bị bào mòn sau vài ngày, đầu, tai, họng có thể bị phù nề, một số có triệu chứng ho, tiêu chảy ra máu; dê mang thai có thể bị sẩy thai, chết lưu hoặc thai nhi dị dạng bẩm sinh. Diễn biến bệnh từ 6-14 ngày, tỷ lệ tử vong từ 2% -30%.

Chú ý cần phân biệt với bệnh mụn mủ viêm loét miệng truyền nhiễm: đặc điểm lưỡi dê bệnh có màu xanh tím và các triệu chứng toàn thân như thân nhiệt tăng cao, còn mụn mủ viêm loét miệng truyền nhiễm chủ yếu ảnh hưởng đến dê non, và nói chung là không xuất hiện triệu chứng như thân nhiệt tăng cao và các triệu chứng thương tổn cơ thể mà chỉ xuất hiện trên môi.

Biện pháp phòng, chống: phòng bệnh hơn chữa bệnh, khi nhập dê từ nơi khác về phải kiểm dịch chặt chẽ, vào mùa hè phải diệt trừ côn trùng tốt, giữ vệ sinh chuồng trại, không để côn trùng cắn; sát khuẩn cho dê bệnh bằng dung dịch thuốc tím, bôi iốt glycerin hoặc bột đá lên bề mặt vết loét, ngày 2-3 lần, và dùng thuốc Sulfa hoặc kháng sinh để phòng ngừa thứ phát lây nhiễm.

Bệnh viêm ruột hoại tử ở dê

Vi khuẩn gây bệnh Clostridium Welchii loại D sinh sôi trong đường ruột của dê sản sinh ra độc tố, bệnh này chủ yếu ảnh hưởng đến dê khoảng 1 tuổi và đang trong thời gian phát triển tốt. Nguyên do là vì vùa mưa, khí hậu thay đổi đột ngột và ăn nhiều thức ăn xanh, mọng nước thường xuyên có thể phát sinh bệnh, phát bệnh lẻ tẻ.

Đặc điểm lâm sàng: Khởi phát đột ngột, ít thấy triệu chứng, hoặc chết đột ngột sau khi thấy triệu chứng. Triệu chứng chủ yếu là co giật, thấy tay chân cứng, co giật cơ, trợn mắt, nghiến răng, miệng mũi chảy ra bọt, thường chết trong vòng 2-4 giờ; một số con có triệu chứng hôn mê, một số có kèm theo tiêu chảy, thải phân đen hoặc xanh đen và chết lặng lẽ trong vòng 3-4 giờ.

Sau khi dê chết, bề mặt thận bị sung huyết, chất nhầy mềm, sau khi ấn nhẹ vào ruột non bị sung huyết và xuất huyết, toàn bộ ruột có màu đỏ như máu.

Biện pháp phòng, chống: Hạn chế chăn thả, điều chỉnh cơ cấu thức ăn của dê một cách khoa học, ngăn chặn hiệu quả việc ăn quá nhiều thức ăn xanh và ngọt, tăng cường vận động và nâng cao thể chất của dê; nếu quá trình của bệnh kéo dài hơn một chút, có thể thử dùng 10-25 gam thuốc sulfa, tiêm bắp hỗn hợp với penicillin 1,6 triệu đơn vị và streptomycin 500 mg ba lần một ngày sẽ có hiệu quả nhất định.

Các loại bệnh của dê hiện nay trên thị trường đã có vắc-xin vì vậy khi nuôi cần tiêm phòng cho dê đầy đủ theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển.

 

Lưu ý nhỏ: Nội dung trên website được tổng hợp từ nhiều nguồn tin khác nhau. Nếu có bất kỳ tranh chấp nội dung liên quan tới bản quyền, vui lòng gửi E-mail tới: vieclamchannuoi@gmail.com hoặc gọi: 0949.339.222. Chân thành cảm ơn!